Từ ngày 01/4/2026, nhiều chính sách pháp luật quan trọng chính thức có hiệu lực thi hành, tác động trực tiếp đến các lĩnh vực khoa học công nghệ, quản lý kinh tế, giáo dục và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
1. Hai Luật quan trọng về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ chính thức có hiệu lực
Ngày 10/12/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số 131/2025/QH15) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ (Luật số 115/2025/QH15). Cả hai luật này đều có hiệu lực từ ngày 01/4/2026 .
(1) Luật số 131/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
Luật sửa đổi lần này tập trung giải quyết các vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển nhanh của công nghệ.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc luật hóa các vấn đề liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI). Theo đó, pháp luật đã đặt ra cơ chế đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ được tạo ra có sử dụng hệ thống AI, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết việc xác lập quyền trong các trường hợp này .
Tuy nhiên, Luật cũng xác định nguyên tắc quan trọng: chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải là con người, AI không được công nhận là tác giả hay chủ sở hữu quyền . Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn sáng tạo số.
Bên cạnh đó, Luật đã bổ sung và hoàn thiện cơ chế khai thác, thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ được xác định rõ là một loại tài sản có thể sử dụng để góp vốn, thế chấp, đầu tư hoặc tham gia các giao dịch dân sự, thương mại . Đồng thời, Nhà nước khuyến khích việc khai thác tài sản trí tuệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường khoa học công nghệ.
Ngoài ra, Luật cũng sửa đổi các quy định về giới hạn quyền sở hữu trí tuệ theo hướng cân bằng lợi ích, bảo đảm việc khai thác quyền không làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, xã hội và các chủ thể khác; đồng thời bổ sung cơ chế xử lý xung đột quyền trên cùng một đối tượng .
(2) Luật số 115/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ
Luật sửa đổi đã có những thay đổi căn bản theo hướng cập nhật thực tiễn phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trước hết, Luật mở rộng khái niệm và phạm vi công nghệ được chuyển giao, không chỉ bao gồm bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ mà còn bổ sung các yếu tố mới như mô hình, thuật toán, phần mềm, dữ liệu… Đây là các yếu tố cốt lõi của nền kinh tế số hiện nay .
Luật cũng điều chỉnh cách tiếp cận về chuyển giao công nghệ theo hướng không chỉ là việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, mà còn là quá trình đưa công nghệ vào ứng dụng thực tiễn gắn với hoạt động đổi mới sáng tạo .
Đáng chú ý, Luật bổ sung các chính sách ưu tiên chuyển giao công nghệ chiến lược, công nghệ xanh, khuyến khích chuyển giao từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước; đồng thời quy định các cơ chế ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai đối với các dự án có nội dung chuyển giao công nghệ .
Ngoài ra, Luật cũng làm rõ hơn quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt là yêu cầu sự đồng ý của chủ sở hữu phải được thể hiện bằng văn bản hoặc hình thức hợp pháp khác; đồng thời tách bạch giữa quyền đối với công nghệ và quyền đối với sản phẩm chứa công nghệ.
2. Nghị định số 13/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều và phụ lục của Nghị định số 62/2024/NĐ-CP ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ sửa đổi, bố sung một số điều, phụ lục của Nghị định số 94/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê và Nghị định số 94/2022/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Chính phủ quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và quy trình biên soạn chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước, chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Theo Nghị định số 13/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 10/4/2026), Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung quy định về công bố các chỉ tiêu thống kê quốc gia, trong đó có chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP).
– Quy định cụ thể từng mốc công bố số liệu theo quý và theo năm: Số liệu ước tính quý I và số liệu sơ bộ quý IV năm trước được công bố vào ngày 03/4; số liệu quý II, 6 tháng và ước tính cả năm lần 1 công bố vào ngày 03/7; số liệu quý III và 9 tháng công bố vào ngày 03/10; số liệu quý IV và ước tính cả năm lần 2 công bố vào ngày 03/01 năm kế tiếp; số liệu sơ bộ và chính thức cả năm được công bố vào các mốc tiếp theo theo quy định.
– Việc quy định thống nhất thời điểm công bố giúp bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống số liệu thống kê: Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý, tổ chức, doanh nghiệp và người dân trong việc tiếp cận, sử dụng thông tin phục vụ công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
3. Thông tư số 07/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quy định chị tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 152/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng đối với ngành Giáo dục
Từ ngày 02/4/2026, Thông tư số 07/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức có hiệu lực, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng trong ngành Giáo dục.
– Quy định rõ về đối tượng và thời điểm xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”: Danh hiệu “Lao động tiên tiến” được xét tặng hằng năm khi kết thúc năm học hoặc năm công tác đối với cá nhân thuộc các đơn vị thuộc Bộ, các cơ sở giáo dục và đơn vị trực thuộc. Việc xét tặng không thực hiện theo hình thức bình quân mà phải căn cứ trực tiếp vào kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân trong cả năm học hoặc năm công tác, bảo đảm phản ánh đúng mức độ đóng góp thực chất.
– Tiêu chuẩn xét tặng được gắn với quy định của Luật Thi đua, khen thưởng: Cá nhân được xét tặng danh hiệu phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo khoản 1 Điều 24 của Luật Thi đua, khen thưởng, bao gồm việc hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp. Việc dẫn chiếu trực tiếp đến Luật nhằm bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng và tránh tình trạng mỗi ngành, mỗi địa phương áp dụng tiêu chí khác nhau.
– Quy định cụ thể việc bình xét đối với các trường hợp đặc thù: Đối với các trường hợp như cá nhân có thời gian công tác chưa đủ năm, nghỉ chế độ, chuyển công tác hoặc có yếu tố đặc biệt khác, việc bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến” được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 5 Điều 2 Thông tư số 15/2025/TT-BNV của Bộ Nội vụ. Quy định này giúp tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động nhưng vẫn giữ được nguyên tắc chặt chẽ trong thi đua, khen thưởng.
– Làm rõ cách áp dụng đối với lực lượng biệt phái trong ngành Giáo dục: Đối với sĩ quan biệt phái của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đang công tác tại các cơ sở giáo dục, việc xét tặng danh hiệu thi đua không áp dụng máy móc theo quy định chung mà thực hiện theo pháp luật chuyên ngành có liên quan. Điều này bảo đảm sự phù hợp với tính chất nhiệm vụ, chế độ công tác đặc thù của các lực lượng vũ trang.
4. Nghị định số 61/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về danh mục, việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính
Nghị định số 61/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/4/2026 đã quy định đầy đủ, thống nhất về danh mục và cơ chế sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong phát hiện vi phạm giao thông đường bộ.
– Ban hành danh mục đầy đủ các loại thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được phép sử dụng: Nghị định đã hệ thống hóa toàn bộ các thiết bị phục vụ phát hiện vi phạm, bao gồm các thiết bị đo tốc độ có ghi hình, thiết bị đo nồng độ cồn trong hơi thở, thiết bị đo và thử chất ma túy, cân kiểm tra tải trọng xe cơ giới, thiết bị ghi âm, ghi hình, thiết bị đo khoảng cách giữa các phương tiện đang lưu thông, thiết bị định vị bằng vệ tinh và các thiết bị kiểm tra điều kiện kỹ thuật của phương tiện như đo khí thải, độ ồn, độ khói, hiệu quả phanh. Việc quy định cụ thể danh mục giúp bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong quá trình sử dụng và làm căn cứ pháp lý rõ ràng khi xử lý vi phạm.
– Bổ sung các thiết bị hiện đại phục vụ quản lý giao thông theo hướng số hóa: Nghị định cho phép sử dụng các hệ thống giám sát giao thông thông minh, bao gồm hệ thống camera giám sát an ninh, trật tự, hệ thống điều hành giao thông, thiết bị trích xuất dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình và camera lắp trên xe kinh doanh vận tải. Đây là các công cụ quan trọng giúp cơ quan chức năng phát hiện vi phạm từ xa, theo dõi liên tục và giảm phụ thuộc vào kiểm tra trực tiếp trên đường.
– Cho phép khai thác dữ liệu do tổ chức, cá nhân cung cấp để phát hiện vi phạm: Một điểm mới đáng chú ý là Nghị định quy định dữ liệu thu được từ các thiết bị do tổ chức, cá nhân cung cấp (như camera của doanh nghiệp, hộ gia đình, phương tiện vận tải…) có thể được sử dụng làm căn cứ phát hiện vi phạm hành chính. Tuy nhiên, việc sử dụng phải bảo đảm dữ liệu có nguồn gốc rõ ràng, chưa bị chỉnh sửa, đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp và độ tin cậy theo quy định.
– Quy định chặt chẽ quy trình thu thập, quản lý và sử dụng dữ liệu: Dữ liệu thu thập từ các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được lưu trữ, bảo quản theo quy định, bảo đảm tính toàn vẹn và khả năng truy xuất khi cần thiết. Việc sử dụng dữ liệu làm căn cứ xử phạt phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan.
– Tăng cường cơ sở pháp lý cho việc xử phạt vi phạm qua thiết bị kỹ thuật: Với việc quy định rõ ràng về danh mục thiết bị và giá trị pháp lý của dữ liệu thu thập được, Nghị định tạo cơ sở để mở rộng hình thức xử phạt vi phạm giao thông thông qua thiết bị kỹ thuật, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, hạn chế tiêu cực và bảo đảm tính khách quan trong quá trình xử lý vi phạm.
File đính kèm:
Luật số 131/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.pdf











