Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2025. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/ 2026.Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gồm 4 chương, 48 điều; trong đó, xây dựng mới 18 điều, sửa đổi, bổ sung nội dung 14 điều, bỏ 5 điều so với quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 trong lĩnh vực chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Sự cần thiết ban hành Luật
Việc xây dựng Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là cần thiết, xuất phát từ cả cơ sở pháp lý và thực tiễn:
- Sau 16 năm triển khai thực hiện, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2008) đã bộc lộ những hạn chế, bất cập khi điều chỉnh chung nhiều lĩnh vực (dân sự, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù), trong khi mỗi lĩnh vực có đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc và trình tự, thủ tục riêng biệt, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện.
- Một số quy định của Luật Tương trợ tư pháp không còn phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành như Hiến pháp năm 2013 (đã được sửa đổi, bổ sung), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung), Luật Thi hành án hình sự năm 2019 (sửa đổi, bổ sung), đòi hỏi phải được sửa đổi để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.
- Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế đa phương và ký kết 23 hiệp định song phương về chuyển giao người bị kết án phạt tù; tuy nhiên, một số quy định của pháp luật trong nước chưa thực sự tương thích với các cam kết quốc tế và thông lệ quốc tế, ảnh hưởng đến hiệu quả hợp tác.
- Thực tiễn thi hành cho thấy còn thiếu các quy định cụ thể, toàn diện về điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan còn bất cập, làm giảm hiệu quả công tác chuyển giao trong thời gian qua.
Bố cục và phạm vi điều chỉnh của Luật
- Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gồm 04 chương, 48 điều; trong đó có nội dung xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ so với quy định tương ứng trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.
- Luật quy định nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong hoạt động này.
- Đối tượng áp dụng bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước ngoài.
Những nội dung cơ bản của Luật
1. Về áp dụng pháp luật và nguyên tắc chuyển giao
- Việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định của Luật; trường hợp Luật không quy định thì áp dụng quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, pháp luật về thi hành án hình sự và các quy định pháp luật khác có liên quan.
- Hoạt động chuyển giao được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ; bình đẳng và cùng có lợi; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì việc chuyển giao được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
- Đồng thời, bảo đảm nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù.
2. Về cơ quan trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
- Bộ Công an được xác định là cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, có trách nhiệm làm đầu mối trao đổi thông tin, tài liệu và thực hiện các hoạt động liên quan.
- Bộ Công an có trách nhiệm lập, gửi và tiếp nhận yêu cầu chuyển giao; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xem xét, giải quyết yêu cầu; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
3. Về áp dụng nguyên tắc có đi có lại
- Việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện: tuân thủ các nguyên tắc của Luật; có cam kết bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc của Bộ Công an trong trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu; đồng thời phù hợp với thực tiễn và nhu cầu hợp tác giữa Việt Nam và nước ngoài.
- Bộ Công an căn cứ các điều kiện nêu trên để quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại; trường hợp cần thiết, lấy ý kiến Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định.
4. Về thẩm quyền của Tòa án nhân dân
- Tòa án nhân dân khu vực nơi người được đề nghị chuyển giao có nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam có thẩm quyền quyết định việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam.
- Tòa án nhân dân khu vực nơi người đang chấp hành án phạt tù có thẩm quyền quyết định việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài.
- Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét, quyết định theo thủ tục phúc thẩm.
5. Về điều kiện, đối tượng và quyền của người đang chấp hành án phạt tù
- Luật cơ bản kế thừa các điều kiện chuyển giao của Luật Tương trợ tư pháp nhưng đã bãi bỏ một số điều kiện không còn phù hợp, như yêu cầu về nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam; đồng thời điều chỉnh quy định về thời hạn còn lại của án phạt theo hướng linh hoạt hơn trong trường hợp đặc biệt.
- Mở rộng đối tượng được chuyển giao, bao gồm cả người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại các cơ sở giam giữ do Bộ Quốc phòng quản lý.
- Quy định rõ người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp chỉ được rút lại đơn đề nghị chuyển giao trước thời điểm quyết định tiếp nhận hoặc quyết định chuyển giao có hiệu lực pháp luật, nhằm bảo đảm quyền tự nguyện đồng thời bảo đảm tính ổn định của hoạt động tư pháp.
6. Về trình tự, thủ tục và tổ chức thực hiện
- Trình tự, thủ tục được sửa đổi theo hướng tách bạch giữa việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam và việc chuyển giao từ Việt Nam cho nước ngoài, bảo đảm rõ ràng, phù hợp với thực tiễn.
- Việc xem xét, quyết định được giao cho 01 Thẩm phán thực hiện, có sự tham gia của Kiểm sát viên và các chủ thể liên quan theo quy định, góp phần rút ngắn thời gian giải quyết và nâng cao hiệu quả thực hiện.
- Luật bổ sung quy định về việc trao đổi, chuyển giao tài liệu giữa các cơ quan có thẩm quyền có thể được thực hiện trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.
7. Về kinh phí thực hiện chuyển giao
- Luật quy định ngân sách nhà nước bảo đảm chi phí chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo quy định của pháp luật trong mọi trường hợp, thay vì chỉ trong một số trường hợp như trước đây.
- Đồng thời, cho phép người đang chấp hành án phạt tù hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được tự nguyện đóng góp, hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần chi phí sinh hoạt, đi lại và các chi phí khác theo quy định của pháp luật.
Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và thay thế Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15. Tuy nhiên, các yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Bộ Công an tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.
File đính kèm:
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025.pdf











