Ngày 10/12/2025, Quốc hội khóa XV, Kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Dân số số 113/2025/QH15. Luật gồm 08 Chương, 30 Điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Việc ban hành Luật Dân số đánh dấu bước chuyển quan trọng từ chính sách dân số tập trung vào kế hoạch hóa gia đình sang tiếp cận toàn diện về dân số và phát triển, nhằm giải quyết đồng bộ các vấn đề về mức sinh, cơ cấu dân số, phân bố dân cư, chất lượng dân số và thích ứng với già hóa dân số, góp phần phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Phạm vi điều chỉnh của Luật
Luật Dân số quy định về về truyền thông, vận động, giáo dục về dân số; duy trì mức sinh thay thế, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; thích ứng với già hóa dân số; nâng cao chất lượng dân số; điều kiện bảo đảm thực hiện công tác dân số.
Những nguyên tắc cơ bản trong thực hiện công tác dân số
Luật xác định việc thực hiện công tác dân số phải bảo đảm:
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực dân số gắn với phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường, bản sắc văn hóa dân tộc để phát triển nhanh và bền vững đất nước;
- Bảo đảm sự chủ động, tự nguyện, bình đẳng và đề cao trách nhiệm của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng, gia đình;
- Bảo đảm cân bằng, hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của công dân, của doanh nghiệp, trách nhiệm của Nhà nước;
- Lồng ghép các yếu tố dân số vào xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế – xã hội;
- Tăng cường phối hợp liên ngành và phát huy vai trò của cộng đồng, xã hội trong công tác dân số.
Các hành vi bị nghiêm cấm
Luật quy định nghiêm cấm các hành vi:
- Tuyên truyền, phổ biến hoặc đưa thông tin có nội dung sai sự thật, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân số;
- Cản trở việc tuyên truyền, giáo dục, vận động phổ biến thông tin, tư vấn về dân số, kế hoạch hóa gia đình, tiếp cận dịch vụ dân số;
- Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định để phục vụ chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan đến giới tính;
- Cưỡng bức, ép buộc việc sinh con hoặc không sinh con;
- Kỳ thị, phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ dân số;
- Nhân bản vô tính người.
Quyền của cá nhân, cặp vợ chồng trong việc sinh con
Một trong những điểm mới quan trọng của Luật là quy định rõ quyền của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng trong việc sinh con.
Theo Điều 13 của Luật, mỗi cá nhân, cặp vợ chồng được:
- Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, thu nhập và nuôi dạy con trên cơ sở bình đẳng;
- Bảo vệ sức khỏe, thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và thực hiện các biện pháp khác liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Các chính sách duy trì mức sinh thay thế
Nhằm duy trì mức sinh thay thế bền vững, Luật quy định nhiều biện pháp hỗ trợ đáng chú ý như:
- Trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 07 tháng;
- Lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con thứ hai;
- Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người;
- Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế;
- Hỗ trợ tài chính đối với phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi;
- Ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội đối với người có từ 02 con đẻ trở lên theo quy định của pháp luật về nhà ở.
Đáng chú ý, các chính sách hỗ trợ tài chính đối với phụ nữ ở địa phương có mức sinh thấp và phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh
Luật tiếp tục khẳng định quan điểm không lựa chọn giới tính thai nhi và đưa ra nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh.
Trong đó:
- Khuyến khích đưa nội dung không trọng nam hơn nữ, không lựa chọn giới tính khi sinh vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư;
- Đình chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đối với người có hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phá thai theo quy định của pháp luật.
Thích ứng với già hóa dân số
Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh. Vì vậy, Luật dành một chương riêng quy định các biện pháp thích ứng với già hóa dân số, bao gồm:
- Chủ động chuẩn bị cho tuổi già;
- Chăm sóc người cao tuổi;
- Phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi;
- Thực hiện các biện pháp phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.
Luật khuyến khích mỗi cá nhân chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ thông qua việc chuẩn bị về sức khỏe, tài chính, tâm lý; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng để duy trì sức khỏe thể chất, tinh thần và chức năng xã hội.
Nâng cao chất lượng dân số
Để nâng cao chất lượng dân số, Luật quy định nhiều giải pháp quan trọng như:
- Khuyến khích nam, nữ chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn;
- Khuyến khích khám sàng lọc bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh;
- Bảo đảm quyền tiếp cận đầy đủ, bình đẳng và không bị phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản;
- Thực hiện dự phòng vô sinh, điều trị vô sinh theo quy định của pháp luật.
Trách nhiệm của toàn xã hội đối với công tác dân số
Luật xác định thực hiện chính sách dân số và phát triển là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, tổ chức và toàn xã hội; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo và huy động xã hội thực hiện chính sách dân số.
Các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân có trách nhiệm:
- Thực hiện các quy định của pháp luật về dân số;
- Thực hiện các cuộc vận động của Đảng và Nhà nước về công tác dân số;
- Tôn trọng quyền và lợi ích của cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội và quốc gia trong thực hiện công tác dân số;
- Giúp đỡ các thành viên trong gia đình thực hiện chính sách, pháp luật về dân số.
Hiệu lực thi hành
Luật Dân số số 113/2025/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Đối với các quy định về hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế và phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi, thời điểm có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Kể từ ngày Luật có hiệu lực, Pháp lệnh Dân số số 06/2003/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15 hết hiệu lực thi hành.
Việc ban hành Luật Dân số năm 2025 tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, toàn diện cho công tác dân số trong giai đoạn mới, góp phần duy trì mức sinh thay thế, nâng cao chất lượng dân số, thích ứng với già hóa dân số, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và thúc đẩy phát triển bền vững đất nước./.
File đính kèm:











