Ngày 15/3/2026 được ấn định là ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Đây là một trong những nội dung quan trọng được Quốc hội khóa XV thông qua tại Nghị quyết số 199/2025/QH15 ngày 21/5/2025 về việc rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026, đồng thời ấn định ngày bầu cử nhiệm kỳ mới.
So với các kỳ bầu cử trước đây, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 được tổ chức sớm hơn, đặt ra yêu cầu cao hơn trong công tác chuẩn bị, tổ chức và triển khai các bước của quy trình bầu cử.
Để bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý cho công tác bầu cử trong bối cảnh mới, ngày 24/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025. Luật sửa đổi, bổ sung lần này có nhiều điểm mới quan trọng, phù hợp với yêu cầu sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy nhà nước và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời khắc phục một số khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn tổ chức các kỳ bầu cử trước đây.
1. Phân định rõ trách nhiệm tổ chức bầu cử trong điều kiện không tổ chức chính quyền cấp huyện
Một trong những điểm mới căn bản của Luật sửa đổi là việc phân định rõ trách nhiệm tổ chức bầu cử trong điều kiện không tổ chức chính quyền cấp huyện, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Theo đó, việc tổ chức bầu cử được thực hiện như sau:
-
Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội tại địa phương;
-
Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố và Ủy ban bầu cử ở xã, phường, đặc khu tổ chức bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh và đại biểu HĐND cấp xã tương ứng;
-
Ban bầu cử và Tổ bầu cử thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp theo quy định của Luật.
Việc phân định này góp phần bảo đảm tính thống nhất, thông suốt trong chỉ đạo, điều hành, đồng thời làm rõ trách nhiệm của từng cấp trong tổ chức thực hiện công tác bầu cử.
2. Thẩm quyền xác định khu vực bỏ phiếu được phân cấp rõ ràng hơn
Luật sửa đổi, bổ sung đã có điều chỉnh quan trọng liên quan đến thẩm quyền xác định khu vực bỏ phiếu.
Tại các kỳ bầu cử trước đây, việc xác định khu vực bỏ phiếu do UBND cấp xã quyết định và được UBND cấp huyện phê chuẩn. Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử sắp tới, UBND cấp xã có thẩm quyền quyết định việc xác định khu vực bỏ phiếu và báo cáo UBND cấp tỉnh. Trường hợp cần thiết, UBND cấp tỉnh thực hiện điều chỉnh việc xác định khu vực bỏ phiếu.
Quy định này nhằm rút ngắn quy trình thực hiện, giảm bớt tầng nấc trung gian, đồng thời thể hiện rõ yêu cầu phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong tổ chức bầu cử.
3. Tăng số lượng thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử để bảo đảm hiệu quả thực hiện nhiệm vụ
Theo Luật sửa đổi, bổ sung, các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương bao gồm:
-
Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố; Ủy ban bầu cử ở xã, phường, đặc khu;
-
Ban bầu cử đại biểu Quốc hội; Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh; Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp xã;
-
Tổ bầu cử.
Do không còn tổ chức bầu cử cấp huyện, để bảo đảm thực hiện tốt khối lượng công việc lớn và yêu cầu cao của công tác bầu cử, số lượng thành viên của các tổ chức phụ trách bầu cử được điều chỉnh tăng lên. Cụ thể:
-
Ủy ban bầu cử cấp tỉnh: từ 23 đến 37 thành viên (trước đây từ 21 đến 31 thành viên);
-
Ủy ban bầu cử cấp xã: từ 9 đến 17 thành viên (trước đây từ 9 đến 11 thành viên);
-
Ban bầu cử đại biểu Quốc hội: từ 9 đến 17 thành viên (trước đây từ 9 đến 15 thành viên);
-
Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh: từ 11 đến 15 thành viên (trước đây từ 11 đến 13 thành viên);
-
Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp xã: từ 9 đến 15 thành viên (trước đây từ 7 đến 9 thành viên).
Việc tăng số lượng thành viên giúp phân công nhiệm vụ hợp lý hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.
4. Điều chỉnh thành phần và rút ngắn thời gian tiến hành các hội nghị hiệp thương
Luật sửa đổi cũng có những điều chỉnh quan trọng về thành phần tham dự và thời gian tiến hành các hội nghị hiệp thương.
Theo đó, thành phần tham dự các hội nghị hiệp thương được điều chỉnh theo hướng phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp. Thay vì có đại diện Mặt trận Tổ quốc cấp huyện như trước đây, nay thành phần tham dự hội nghị hiệp thương có đại diện Mặt trận Tổ quốc cấp xã trực thuộc, góp phần tăng cường tính đại diện trực tiếp, gần gũi với cử tri.
Bên cạnh đó, các mốc thời gian tiến hành hội nghị hiệp thương cũng được rút ngắn đáng kể, cụ thể:
-
Hội nghị hiệp thương lần thứ hai được tổ chức chậm nhất 40 ngày trước ngày bầu cử (trước đây là 65 ngày);
-
Hội nghị hiệp thương lần thứ ba được tổ chức chậm nhất 23 ngày trước ngày bầu cử (trước đây là 35 ngày).
5. Rút ngắn các mốc thời gian quan trọng trong quy trình bầu cử
Không chỉ các hội nghị hiệp thương, nhiều mốc thời gian quan trọng khác trong quy trình bầu cử cũng được điều chỉnh rút ngắn, nhằm bảo đảm đồng bộ với việc rút ngắn nhiệm kỳ và ngày bầu cử được ấn định sớm hơn. Cụ thể:
-
Danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND được công bố, niêm yết chậm nhất 16 ngày trước ngày bầu cử (trước đây là 20 ngày);
-
Thời gian tiến hành bầu cử thêm, bầu cử lại chậm nhất 07 ngày sau ngày bầu cử (trước đây là 15 ngày);
-
Thời hạn công bố kết quả bầu cử, danh sách trúng cử đại biểu Quốc hội chậm nhất 10 ngày sau ngày bầu cử, thống nhất với thời hạn công bố kết quả bầu cử đại biểu HĐND các cấp;
-
Thời gian tiếp nhận khiếu nại về kết quả bầu cử chậm nhất 03 ngày kể từ ngày công bố kết quả;
-
Thời gian xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử chậm nhất 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại đối với cả kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp.
Như vậy, thời gian từ khi kết thúc việc nộp hồ sơ ứng cử đến ngày bầu cử được rút ngắn từ 70 ngày xuống còn 42 ngày, đồng thời các thủ tục sau bầu cử cũng được rút gọn, góp phần nâng cao tính kịp thời và hiệu quả trong tổ chức thực hiện.
6. Đổi mới phương thức vận động bầu cử, phù hợp với xu thế chuyển đổi số
Một điểm mới đáng chú ý khác là việc đổi mới phương thức vận động bầu cử. Bên cạnh hình thức tiếp xúc cử tri trực tiếp, Luật sửa đổi, bổ sung cho phép tổ chức vận động bầu cử theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến, với điều kiện bảo đảm yêu cầu về kỹ thuật, an toàn thông tin và an ninh mạng.
Quy định này phù hợp với xu thế phát triển của khoa học, công nghệ, góp phần mở rộng kênh tương tác giữa người ứng cử với cử tri, tạo điều kiện để cử tri tham gia đầy đủ hơn vào các hoạt động bầu cử trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.
Với những nội dung sửa đổi, bổ sung nêu trên, có thể thấy Luật Bầu cử đã kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế của các quy định trước đây, đồng thời nâng cao tính khả thi trong tổ chức triển khai, vận dụng trong thực tiễn.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 là cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức sau khi Nhà nước ta thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy, triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đây vừa là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, vừa là dịp để kiểm nghiệm, đánh giá toàn diện hiệu quả của những quy định mới trong Luật Bầu cử.
Tin tưởng rằng, với sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, tham gia tích cực của Nhân dân, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 sẽ thành công tốt đẹp, thực sự trở thành ngày hội của toàn dân, nơi mỗi lá phiếu thể hiện niềm tin, trách nhiệm và khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam phát triển bền vững.
File đính kèm:











