06 Luật có hiệu lực từ ngày 01/3/2026

06 Luat co hieu luc tu ngay 01320261. Luật Đầu tư số 143/2025/QH15

– Phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài.

– Đối tượng áp dụng: Luật này áp dụng đối với nhà đầu tư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh.

– Luật Đầu tư đã cắt giảm, thu hẹp phạm vi nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện so với Luật Đầu tư 2020.

Theo Phụ lục IV Luật Đầu tư 2025, một số ngành nghề được loại khỏi danh mục hoặc điều chỉnh gồm: kinh doanh làm thủ tục thuế, dịch vụ làm thủ tục hải quan, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, cho thuê lại lao động; giám định thương mại; tạm nhập tái xuất thực phẩm đông lạnh; tạm nhập tái xuất hàng đã qua sử dụng…

Như vậy, danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện chỉ còn 198 ngành, tức bãi bỏ 38 ngành không còn yêu cầu điều kiện kinh doanh so với trước.

– Điều 24 quy định cụ thể 20 loại dự án phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, thay vì quy định theo thẩm quyền như trước đây. Các nhóm dự án bao gồm:

+ Dự án sử dụng đất, tài nguyên lớn hoặc nhạy cảm: chuyển mục đích sử dụng rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) với diện tích lớn; chuyển đất trồng lúa từ 500 ha trở lên; dự án có di dân tái định cư quy mô lớn; dự án tại khu vực ảnh hưởng quốc phòng, an ninh; dự án đề nghị giao khu vực biển.

+ Dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt, nhạy cảm: điện hạt nhân; casino, đặt cược; chế biến dầu khí; kinh doanh vận chuyển hàng không; viễn thông có hạ tầng mạng, trồng rừng, xuất bản, báo chí do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện.

– Dự án liên quan di sản, đô thị đặc thù: dự án trong khu vực bảo vệ di tích quốc gia, di sản thế giới; dự án tại khu vực hạn chế phát triển hoặc nội đô lịch sử của đô thị loại đặc biệt.

+ Dự án hạ tầng, bất động sản quy mô lớn: xây dựng nhà ở, khu đô thị (khi nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất); sân gôn; khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ số; cảng biển lớn; cảng hàng không, sân bay và hạ tầng hàng không quan trọng.

+Dự án có yêu cầu đặc biệt: đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (trừ một số trường hợp được loại trừ); dự án cần áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù khác luật; các dự án khác thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ theo quy định pháp luật.

Về thẩm quyền, Điều 25 Luật 2025 quy định Quốc hội chỉ xem xét dự án cần cơ chế đặc biệt; Thủ tướng quyết định 8 nhóm; Chủ tịch UBND cấp tỉnh (thay vì UBND tỉnh) quyết định 13 nhóm dự án.

– Luật Đầu tư năm 2025 chỉ quy định 5 trường hợp phải điều chỉnh chủ trương đầu tư gồm:

+ Thay đổi, bổ sung nội dung, mục tiêu thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư đã được quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư;

+ Thay đổi quy mô diện tích đất sử dụng theo quy định của Chính phủ, thay đổi địa điểm đầu tư;

+ Kéo dài tiến độ thực hiện dự án đầu tư trong trường hợp điều chỉnh tiến độ quá 24 tháng theo quy định tại khoản 4 Điều 33;

+ Điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư;

+Thay đổi nhà đầu tư của dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư trước khi dự án khai thác, vận hành hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có).

2.  Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15

– Phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi là hợp tác xã); nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành thủ tục phục hồi, phá sản; quyền, nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phục hồi, phá sản.

–  Áp dụng pháp luật: Luật Phục hồi, phá sản được áp dụng khi giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; trường hợp Luật này không có quy định thì áp dụng quy định của pháp luật có liên quan. Quy định về thủ tục phục hồi, thủ tục phục hồi rút gọn của Luật này không áp dụng đối với tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.

Luật chính thức đổi tên từ “Luật Phá sản” thành “Luật Phục hồi, phá sản”, qua đó khẳng định phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã là một thủ tục độc lập và được ưu tiên xem xét song song với thủ tục phá sản; cách tiếp cận mới khuyến khích tái cơ cấu, tạo cơ hội hồi sinh cho doanh nghiệp ngay từ khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán, hạn chế tuyên bố phá sản trong trường hợp không thật sự cần thiết và phù hợp hơn với yêu cầu phát triển, hội nhập kinh tế.

– Bổ sung chính sách hỗ trợ của Nhà nước và cơ chế tạm ứng chi phí phá sản: Luật quy định Nhà nước có chính sách hỗ trợ về thuế, phí, tín dụng, lãi suất, đất đai, công nghệ, chuyển đổi số và các biện pháp khác đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện thủ tục phục hồi, phá sản; đồng thời bổ sung cơ chế ngân sách nhà nước tạm ứng chi phí phá sản khi doanh nghiệp không còn khả năng chi trả, đặc biệt trong trường hợp người lao động, công đoàn, cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm xã hội nộp đơn hoặc doanh nghiệp không còn tài sản, bảo đảm thủ tục được tiến hành thông suốt và tăng tính khả thi trong thực tiễn.

– Thiết lập thủ tục phục hồi độc lập và mở rộng chủ thể khởi xướng: Lần đầu tiên thủ tục phục hồi được quy định thành một chương riêng, cho phép doanh nghiệp có nguy cơ hoặc đã mất khả năng thanh toán chủ động nộp đơn kèm phương án phục hồi; đồng thời bổ sung cơ quan quản lý thuế và cơ quan bảo hiểm xã hội là chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản, góp phần xử lý tình trạng doanh nghiệp nợ thuế, nợ bảo hiểm kéo dài và bảo vệ lợi ích công cộng, quyền lợi người lao động.

– Đơn giản hóa, linh hoạt hóa thủ tục và tăng cường hòa giải: Luật bổ sung cơ chế thương lượng, hòa giải với trách nhiệm cụ thể của Quản tài viên và Thẩm phán nhằm giảm tính đối kháng, tiết kiệm thời gian, chi phí; đồng thời quy định thủ tục rút gọn đối với doanh nghiệp nhỏ, ít chủ nợ với thời hạn giải quyết bằng một nửa thủ tục thông thường, sửa đổi thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng thu hẹp để bảo đảm tính ổn định của quyết định tố tụng và nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc.

– Hiện đại hóa thủ tục và hoàn thiện cơ chế xử lý tài sản, yếu tố nước ngoài: Luật cho phép thực hiện nhiều bước tố tụng trên môi trường điện tử và công khai thông tin trên Cổng thông tin điện tử quốc gia; bổ sung các cơ chế xử lý tài sản như chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp, bán tài sản để tránh thất thoát, xử lý tài sản không còn giá trị, tăng vai trò của Quản tài viên trong tổ chức thi hành; đồng thời hoàn thiện quy định về giải quyết vụ việc có yếu tố nước ngoài và cơ chế giải quyết tranh chấp ngay trong thủ tục phá sản nhằm bảo đảm tính thống nhất, kịp thời và phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế.

3. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15

– Phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; quyền và trách nhiệm của chủ thể giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động giám sát; việc bảo đảm hoạt động giám sát.

Luật xác định hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND là công cụ kiểm soát quyền lực thông qua việc theo dõi, xem xét, đánh giá việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; trên cơ sở đó xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

– Quy định rõ nguyên tắc và yêu cầu thực hiện giám sát: Luật quy định 6 nguyên tắc hoạt động giám sát, nhấn mạnh bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả; thực hiện giám sát toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm; gắn kết giám sát với hoàn thiện chính sách, pháp luật và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương; đồng thời bảo đảm không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

– Nâng cao giá trị pháp lý và trách nhiệm thực hiện kết luận giám sát: Nghị quyết giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và HĐND có giá trị pháp lý bắt buộc thi hành; các kết luận, kiến nghị giám sát phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và các chủ thể liên quan nghiêm chỉnh thực hiện; trường hợp không đồng ý, đối tượng chịu sự giám sát có quyền đề nghị xem xét lại và chủ thể giám sát phải trả lời trong 15 ngày, trường hợp bất khả kháng hoặc nội dung phức tạp thì được kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

4. Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15

– Phạm vi điều chỉnh:

+ Luật này quy định về nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo (sau đây gọi là hoạt động trí tuệ nhân tạo); quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan và quản lý nhà nước đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.

+ Hoạt động trí tuệ nhân tạo chỉ phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, cơ yếu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.

– Đối tượng áp dụng: Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.

– Quy định rõ hành vi bị nghiêm cấm và cơ chế quản lý rủi ro: Luật Trí tuệ nhân tạo quy định cụ thể các hành vi bị cấm như lợi dụng AI để lừa dối, thao túng nhận thức con người; khai thác điểm yếu của trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật; tạo lập, phát tán nội dung giả mạo gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đồng thời nghiêm cấm thu thập, xử lý, sử dụng dữ liệu trái pháp luật, cản trở cơ chế giám sát của con người hoặc che giấu thông tin bắt buộc phải công khai. Luật phân loại hệ thống AI theo ba mức rủi ro thấp, trung bình và cao để áp dụng nghĩa vụ quản lý tương ứng, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ các hệ thống rủi ro cao nhưng vẫn khuyến khích đổi mới sáng tạo đối với ứng dụng rủi ro thấp.

– Thiết lập cơ chế trách nhiệm và bồi thường thiệt hại rõ ràng: Luật quy định tổ chức, cá nhân vi phạm tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường thiệt hại; đáng chú ý, ngay cả khi hệ thống AI rủi ro cao được vận hành đúng quy định nhưng vẫn gây thiệt hại thì bên triển khai vẫn phải bồi thường, qua đó nâng cao trách nhiệm xã hội của chủ thể phát triển và ứng dụng AI. Trường hợp hệ thống bị bên thứ ba xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì bên vi phạm phải bồi thường; nếu nhà cung cấp hoặc bên triển khai có lỗi trong quản lý, bảo mật thì phải liên đới chịu trách nhiệm theo pháp luật dân sự.

5. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15

– Phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về bí mật nhà nước, bảo vệ bí mật nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

– Luật này quy định về bí mật nhà nước, bảo vệ bí mật nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Luật bổ sung 02 khái niệm mới, gồm:

+ Khái niệm “Mạng LAN độc lập”: Luật quy định “Mạng LAN độc lập” là mạng máy tính cục bộ được thiết lập, giới hạn trong một trụ sở cơ quan, tổ chức, không kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông, mạng máy tính khác có kết nối ra ngoài trụ sở đó và có biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống kết nối, tấn công, thu thập thông tin trái phép. Đây là quy định mới được bổ sung tại Luật để thống nhất cách hiểu về “Mạng LAN độc lập” dùng để soạn thảo, lưu giữ, gửi, nhận bí mật nhà nước trong cơ quan, tổ chức.

+ Khái niệm “Văn bản điện tử bí mật nhà nước”: Luật quy định “Văn bản điện tử bí mật nhà nước” là văn bản chứa bí mật nhà nước dưới dạng dữ liệu số được người có thẩm quyền theo quy định của Luật này xác định. Việc bổ sung khái niệm “Văn bản điện tử bí mật nhà nước” nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn hiện nay khi các ban, bộ, ngành, địa phương tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác bảo vệ bí mật nhà nước, tiến tới không sử dụng tài liệu bí mật nhà nước là bản giấy.

– 10 hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ bí mật nhà nước

+ Xác định bí mật nhà nước đối với thông tin không thuộc danh mục bí mật nhà nước.

+ Soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật nhà nước trên máy tính hoặc thiết bị khác đang kết nối với mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông, trừ trường hợp lưu giữ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về cơ yếu và quy định khác của pháp luật có liên quan.

+ Làm lộ, chiếm đoạt, mua, bán bí mật nhà nước; làm sai lệch, hư hỏng, mất tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.

+ Thu thập, trao đổi, cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước trái pháp luật; sao, chụp, lưu giữ, vận chuyển, giao, nhận, thu hồi, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trái pháp luật.

+ Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ trái pháp luật.

+ Lợi dụng, lạm dụng việc bảo vệ bí mật nhà nước, sử dụng bí mật nhà nước để thực hiện, che giấu hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp hoặc cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

+ Truyền đưa bí mật nhà nước trên mạng máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông trái với quy định của pháp luật về cơ yếu hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan.

+ Sử dụng máy tính, thiết bị khác để soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật nhà nước khi chưa bảo đảm an ninh, an toàn, phòng, chống xâm phạm bí mật nhà nước.

+ Sử dụng thiết bị có tính năng thu, phát tín hiệu, ghi âm, ghi hình trong hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước dưới mọi hình thức khi chưa được người có thẩm quyền cho phép.

+ Sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để xâm phạm bí mật nhà nước; đăng tải bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng tải, phát tán bí mật nhà nước trên mạng Internet, mạng viễn thông.

6. Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15

– Phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định hệ thống quy hoạch; việc lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố, cung cấp thông tin, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh quy hoạch; quản lý nhà nước về hoạt động quy hoạch.

– Đối tượng áp dụng: Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố, cung cấp thông tin, thực hiện, đánh giá, điều chỉnh quy hoạch và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

– Nội dung điều chỉnh và hệ thống quy hoạch theo Luật Quy hoạch 2025: Luật quy định toàn diện các hoạt động quy hoạch từ lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, cung cấp thông tin đến đánh giá và điều chỉnh quy hoạch, bảo đảm quy trình thống nhất, minh bạch và có tính liên thông giữa các cấp; hệ thống quy hoạch được tổ chức theo nhiều cấp độ gồm quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành và quy hoạch đô thị – nông thôn, trong đó quy hoạch cấp quốc gia bao gồm quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia và quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Thời kỳ quy hoạch được xác định theo chu kỳ 10 năm, bắt đầu từ năm có chữ số cuối là 1 và kết thúc vào năm có chữ số cuối là 0, đồng thời tầm nhìn quy hoạch tối thiểu 30 năm nhằm bảo đảm định hướng dài hạn, phát triển bền vững; riêng quy hoạch đô thị và nông thôn tiếp tục thực hiện theo pháp luật chuyên ngành để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong toàn hệ thống pháp luật.

– Tăng cường cơ chế giám sát hoạt động quy hoạch: Luật nhấn mạnh việc mở rộng cơ chế giám sát với sự tham gia của nhiều chủ thể nhằm nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình; Quốc hội và Hội đồng nhân dân thực hiện giám sát theo thẩm quyền được giao trong pháp luật về hoạt động giám sát, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện vai trò phản biện xã hội và giám sát theo quy định chuyên ngành, đồng thời cá nhân, tổ chức và cộng đồng dân cư có quyền tham gia góp ý, giám sát và tiếp cận thông tin quy hoạch theo pháp luật về dân chủ ở cơ sở và tiếp cận thông tin, qua đó bảo đảm tính công khai, minh bạch và sự tham gia rộng rãi của xã hội trong quá trình hoạch định phát triển.

– Các hành vi bị nghiêm cấm: Luật quy định chặt chẽ các hành vi bị cấm nhằm bảo đảm tính khách quan và công bằng trong hoạt động quy hoạch, bao gồm việc lập, thẩm định, phê duyệt hoặc điều chỉnh quy hoạch trái quy định; lập quy hoạch mang tính chỉ định sản phẩm, dịch vụ hoặc nhà đầu tư; cản trở cơ quan, tổ chức, cá nhân hay cộng đồng tham gia góp ý; cung cấp thông tin sai lệch, làm giả, tẩy xóa hoặc hủy hoại tài liệu quy hoạch, qua đó thiết lập cơ sở pháp lý rõ ràng để xử lý vi phạm và phòng ngừa tiêu cực.

File đính kèm:

Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15.pdf

Luật Đầu tư số 143/2025/QH15.pdf

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15.pdf

Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15.pdf

Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15.pdf

Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15.pdf

Các tin khác

Danh mục