Tìm hiểu về Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam (18-5)

Ngày 18/5 hằng năm là dịp đặc biệt để tôn vinh đội ngũ trí thức, nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân đang ngày đêm cống hiến cho sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước. Đây không chỉ là ngày hội của giới khoa học mà còn là dịp khẳng định vai trò then chốt của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững trong thời kỳ mới.

I. Lịch sử ra đời

Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam có nguồn gốc từ sự kiện lịch sử ngày 18/5/1963, tại Đại hội Đại biểu lần thứ nhất của Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những định hướng quan trọng đối với sự phát triển khoa học và công nghệ nước nhà, đồng thời giao trọng trách vẻ vang cho đội ngũ trí thức khoa học Việt Nam.

Người khẳng định: “Nhiệm vụ của khoa học là ra sức cải biến những cái đó… Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng…”. Tư tưởng ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, trở thành kim chỉ nam cho sự phát triển khoa học, công nghệ gắn với thực tiễn đời sống, phục vụ nhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước.

Để ghi nhận ý nghĩa lịch sử đặc biệt đó, ngày 18/6/2013, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIII, Luật Khoa học và Công nghệ đã được thông qua, thống nhất lấy ngày 18/5 hằng năm là Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Tiếp đó, ngày 27/6/2025, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, chính thức xác định ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy và chiến lược phát triển quốc gia dựa trên tri thức, công nghệ và sáng tạo.

II. Mục đích và ý nghĩa

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Việc tổ chức Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam mang nhiều ý nghĩa thiết thực, góp phần lan tỏa tinh thần nghiên cứu, sáng tạo trong toàn xã hội.

Đây là dịp để tôn vinh, tri ân đội ngũ trí thức, nhà khoa học, các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có nhiều đóng góp cho sự phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước. Đồng thời, khơi dậy niềm tự hào về trí tuệ Việt Nam, cổ vũ tinh thần say mê nghiên cứu, lao động sáng tạo trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ – lực lượng giữ vai trò quan trọng trong hành trình xây dựng quốc gia số, kinh tế số và xã hội số.

Bên cạnh đó, Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam còn góp phần thúc đẩy việc ứng dụng các thành tựu nghiên cứu khoa học vào thực tiễn sản xuất và đời sống; tăng cường liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân; đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới mô hình tăng trưởng, hướng tới phát triển bền vững.

Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với mỗi quốc gia. Với Việt Nam, đây chính là “chìa khóa vàng” để bứt phá, nâng cao vị thế quốc gia trong kỷ nguyên hội nhập và cạnh tranh toàn cầu. Tinh thần ngày 18/5 vì vậy không chỉ dừng lại ở hoạt động tôn vinh, mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm chung tay xây dựng xã hội học tập, xã hội sáng tạo, nơi tri thức và công nghệ trở thành nền tảng cho sự phát triển phồn vinh, hạnh phúc của đất nước và nhân dân.

III. Định hướng chiến lược và chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Tại Điều 6 Luật Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025 quy định về định hướng chiến lược và chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo như sau:

1. Định hướng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bao gồm:

– Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, phát triển bền vững và bao trùm; ưu tiên giải pháp khoa học và công nghệ góp phần bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm công bằng trong tiếp cận công nghệ;

– Gắn kết hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với nhu cầu của thị trường; xác định doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo; nâng cao năng lực tiếp nhận, làm chủ và thương mại hóa công nghệ trong nước; thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu, khuyến khích tăng tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân, đặc biệt từ doanh nghiệp cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo;

– Nhà nước kiến tạo phát triển, xây dựng thể chế, thúc đẩy đầu tư, phát triển đồng bộ, hiện đại hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; thúc đẩy hệ thống đổi mới sáng tạo mở, minh bạch, hiệu quả;

– Tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực công nghệ có tiềm năng tạo đột phá, công nghệ chiến lược trên cơ sở bám sát xu thế công nghệ toàn cầu, năng lực nội tại và lợi thế cạnh tranh của quốc gia; phát triển đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chất lượng cao; thu hút, trọng dụng nhân tài trong nước, nước ngoài;

– Khuyến khích hoạt động mạo hiểm trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, chính sách chia sẻ rủi ro, đầu tư mạo hiểm và các cơ chế tài chính đặc thù khác;

– Khơi dậy và kết nối mọi nguồn lực trong xã hội cho đổi mới sáng tạo; bảo đảm các nguồn lực được sử dụng để phát huy tối đa năng lực sáng tạo, khả năng kiến tạo giá trị, phát triển nội lực và phối hợp hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế và chủ động tham gia chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.

2. Để cụ thể hóa các định hướng chiến lược quy định tại khoản 1 Điều này, Nhà nước thực hiện các chính sách sau đây:

– Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, đồng bộ, gắn với xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội; phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp và người dân, vai trò tri thức của cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu, vai trò kiến tạo và dẫn dắt của Nhà nước; phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn;

– Tăng cường đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; thực hiện cơ chế tài chính linh hoạt; áp dụng chính sách ưu đãi thuế và hỗ trợ lãi suất vay đối với doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; thành lập các quỹ chuyên biệt có sự tham gia góp vốn của Nhà nước;

– Phát triển và hoàn thiện thị trường khoa học và công nghệ; khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; khuyến khích và hỗ trợ chuyển giao công nghệ;

– Áp dụng cơ chế ưu đãi và cơ chế đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia, nhà khoa học trong nước, nước ngoài; đào tạo, phát triển và trọng dụng nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược và mục tiêu nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia;

– Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; phát triển kết nối hạ tầng giữa viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp; đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học thành các trung tâm nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; từng bước hình thành các trung tâm nghiên cứu trình độ cao gắn với đào tạo nhân lực chất lượng cao, bảo đảm phối hợp hiệu quả với mạng lưới viện nghiên cứu chuyên ngành;

– Tăng cường hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng; thúc đẩy phát triển công nghệ, chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới, làm chủ và sáng tạo công nghệ; gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng, phát huy tiềm năng nội sinh kết hợp với tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia trong các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế;

– Mở rộng hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam;

– Ưu tiên phát triển hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thông qua đầu tư hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ phù hợp với điều kiện địa phương; khuyến khích mô hình đổi mới sáng tạo gắn với phát triển nông nghiệp, bảo tồn tri thức bản địa và phát triển bền vững;

– Tăng cường sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác và cộng đồng trong công tác tuyên truyền, tư vấn, phản biện xã hội đối với chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh kết nối khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với hoạt động sản xuất, kinh doanh, giáo dục, đào tạo và phát triển cộng đồng.

Các tin khác

Danh mục